MS39 (thể loại văn xuôi)
Có những nơi mình sinh ra, lớn lên rồi rời xa, đến khi đi qua hàng chục năm mới chợt nhận ra quê hương chưa bao giờ rời khỏi mình. Với tôi, Lệ Sơn là một nơi như thế.
Dẫu cuộc sống đã đưa tôi đi xa, dẫu hôm nay tôi đã có gia đình, có những đứa con và một công việc ổn định, thì trong sâu thẳm ký ức, tôi vẫn là cô bé ngày nào của Lệ Sơn.
Mỗi khi nhớ về quê, tôi lại thấy dòng sông uốn quanh, bãi cát vàng, lũy tre xào xạc, bến đò, cây đa, nhà ga, khu chợ và những con đường làng thân thuộc. Nhưng hơn tất cả, điều tôi nhớ nhất vẫn là những con người đã cùng tôi đi qua những năm tháng tuổi thơ nghèo khó mà ấm áp tình người.

Nhà tôi ngày ấy nghèo lắm. Ba chị em tôi lớn lên trong sự tảo tần của mẹ và tình yêu thương của cha. Cha tôi là y tá quân đội, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, làm chuyên gia tại Lào và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì.
Trong ký ức tuổi thơ của tôi, cha luôn hiện lên với ánh mắt hiền từ và nụ cười nhân hậu.
Tôi nhớ những ngày theo cha xuống Hung Tắt, Hung Cày mót khoai, hái rau, kiếm củi. Có lần tôi đau bụng, cha tìm kiếm củ thun (củ nén) nhai ra rồi xoa lên bụng cho tôi đỡ đau. Cha bảo tôi nằm trên một phiến đá bằng phẳng để cha đi kiếm rau. Tôi nằm đó, nghe tiếng chim cu gáy “cúc cu”, nghe gió thổi qua những bụi cây rồi mơ màng chìm vào giấc ngủ.
Một ký ức bình thường thôi, vậy mà hơn ba mươi năm đã trôi qua, tôi vẫn nhớ.
Cha tôi lâm bệnh nặng và mất năm 1994, khi tôi chín tuổi, chuẩn bị vào lớp 3. Tôi còn quá nhỏ để hiểu hết sự mất mát ấy. Chỉ biết từ đó, căn nhà thiếu đi bóng cha, còn mẹ thì trở thành chỗ dựa duy nhất của ba chị em. Nhiều năm sau, mỗi khi nhớ cha, tôi thường lặng lẽ bước vào bàn thờ, đưa tay lật tấm vải phủ trên di ảnh cha, đứng nhìn thật lâu rồi cứ thế nước mắt trào ra. Có những nỗi nhớ không cần nói thành lời, chỉ cần nhìn vào một tấm ảnh cũng đủ khiến lòng mình nghẹn lại.
Cha mất, mẹ một mình nuôi ba chị em. Mẹ vừa làm cha, vừa làm mẹ, vừa lo cái ăn, cái mặc, vừa lo chuyện học hành cho các con.
Nhà tôi lúc đó chưa có ruộng đất, tiền bạc cũng chẳng có vì cha tôi ốm nặng ba năm, mẹ chạy vạy thuốc men đã kiệt quệ. Ba chị em bảo ban nhau mỗi người một việc. Đứa nhặt rau, đứa kiếm củi, đứa đi chợ. Còn tôi là chị cả nên việc phụ mẹ gần như trở thành công việc hằng ngày.
Có những ngày tôi thức dậy từ ba, bốn giờ sáng. Trời còn tối, mẹ đã gọi tôi dậy cắt bắp chuối, làm rau sống, trộn rau để mẹ đem đi chợ. Có những hôm phải đi từ rất sớm, đường sá lầy lội, qua những đoạn ngập nước, rồi về còn kịp đến trường. Tôi cũng từng mò cua, bắt ốc, nhặt rau, kiếm củi. Có những ngày đi học về lại tất tả chạy đi làm việc nhà.
Tuổi thơ của tôi cứ thế lớn lên giữa sách vở và những công việc mà một đứa trẻ ngày ấy có lẽ không nghĩ rằng đó là gian khổ, bởi tất cả đều là chuyện phải làm để phụ mẹ.
Nhưng điều tôi nhớ nhất về những năm tháng nghèo khó ấy lại không phải là sự thiếu thốn. Tôi nhớ tình người.
Những lần đi mót khoai, trong rổ của tôi có khi chẳng được bao nhiêu. Nhưng thấy những đứa trẻ nghèo đi mót, ông bà, cô bác trong làng thường thương tình cho thêm vài củ. Người cho vài củ khoai, người cho nắm rau. Có khi chỉ nói một câu rất đơn giản: “Cầm về cho mẹ”.
Những củ khoai ấy ngày đó quý lắm. Không chỉ vì đó là thức ăn, mà vì trong đó có sự thương yêu của người làng dành cho một đứa trẻ nghèo.
Tôi cũng không thể quên những trận lũ ở Lệ Sơn.
Có một lần nước lũ lên rất nhanh. Trong lúc nước đang chảy xiết, tôi bị dòng nước cuốn đi. Khi ấy tôi còn nhỏ, sức chẳng có bao nhiêu, giữa dòng nước đục ngầu tôi chỉ biết chới với, hoảng loạn và kêu cứu. Tôi nhớ cảm giác mình bị dòng nước kéo đi và nỗi sợ hãi của một đứa trẻ khi không biết mình sẽ trôi về đâu.
May mắn thay, anh Lài, người hàng xóm, đã kịp nhìn thấy và đưa tôi vào nơi an toàn. Bàn tay anh đưa ra đúng lúc ấy đã kéo tôi trở lại với bờ. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ ơn anh. Có thể ngày ấy anh chỉ nghĩ đơn giản rằng thấy đứa trẻ hàng xóm gặp nạn thì phải cứu. Nhưng với tôi, đó là một ân tình theo suốt cuộc đời.

Sau này lớn lên, tôi mới hiểu rằng điều đáng nhớ nhất của những trận lũ năm ấy không chỉ là nước dâng cao đến đâu, nhà cửa thiệt hại thế nào, mà là giữa lúc mưa lũ dữ dội, người làng vẫn nhìn thấy nhau, tìm đến nhau và không bỏ mặc nhau.
Có những năm lũ lớn làm nhà tôi bị sập. Một đứa trẻ chỉ biết đứng nhìn căn nhà của mình tan tác mà không biết phải làm gì. Rồi bà con trong làng kéo đến. Người đan tranh, người chẻ lạt, người đầm đất, người dựng cột. Người góp công, người góp sức. Không ai tính toán ai làm nhiều, ai làm ít. Cứ thế, từng người một chung
tay dựng lại mái nhà cho gia đình tôi.
Bây giờ nghĩ lại, tôi mới hiểu: ngày ấy chúng tôi nghèo thật, nhưng chưa bao giờ nghèo tình người.
Ngay cả việc học của tôi cũng mang theo nghĩa tình của quê hương. Sách giáo khoa ngày ấy là một thứ rất quý. Tôi may mắn được chị Hồng (con bác Lương) và chị Hồng (cháu mệ Khể) đã yêu thương tặng lại bộ sách giáo khoa của các chị đã học. Mỗi mùa hè, mẹ tôi mang bộ sách của các chị về là tôi mừng lắm. Với một đứa trẻ nhà nghèo, có được sách để đến trường là tiếp thêm một niềm hi vọng.
Tôi giữ sách rất cẩn thận. Học xong năm nào, tôi lại cất đi để năm sau đưa cho các em học tiếp.
Cứ thế, năm này qua năm khác, những cuốn sách cũ được chuyền từ người này sang người khác. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy những cuốn sách ấy không chỉ có kiến thức. Trong từng trang sách còn có cả sự sẻ chia, lòng tốt và tình nghĩa của người Lệ Sơn.
Trong những năm tháng ấy, tôi còn may mắn có chú Danh, tức chú Lương Ngọc Đệ, vừa là chú họ vừa là thầy giáo, luôn động viên tôi cố gắng học hành. Chú hiền, thương trẻ con và hiểu hoàn cảnh của tôi. Mỗi khi có điều gì không biết, tôi lại tìm đến chú. Chú luôn nhắc tôi đừng vì nghèo mà bỏ học.
Sau này, từ lúc tôi thi vào đại học, nhập học rồi đến khi nhận công việc đầu tiên, chú vẫn dõi theo và động viên. Những lời chú nói ngày ấy giản dị thôi, nhưng với tôi lại là động lực rất lớn.
Sau khi cha mất, tôi từng ra Hà Nội ở với cô họ để làm con nuôi, mẹ đứt ruột để tôi đi chỉ mong con có điều kiện học hành tốt hơn. Nhưng rồi tôi không thể nhập học vì chương trình lớp 3 ở quê lúc ấy chưa học tiếng Anh. Tôi lại trở về quê.
Ngày trở về, gặp mẹ, hai mẹ con mừng mừng tủi tủi. Tôi vẫn nhớ mẹ từng tiễn tôi ở ga Lệ Sơn. Mẹ dặn dò tôi đủ điều rằng ra ở với cô thì phải biết chăm chỉ vâng lời, còn tôi mang theo ước mong được học hành đến nơi đến chốn.
Rồi tôi lại tiếp tục về nhập học lại ở quê. Năm học cấp 3, trường chuyển lên địa điểm mới cách làng xa hơn, lại phải qua sông việc đi học càng khó khăn. Mẹ cố mua cho tôi một chiếc xe đạp cũ với giá 250.000 đồng, mua chịu. Tôi vui lắm, cứ nghĩ từ nay mình sẽ đỡ vất vả hơn. Nhưng rồi nhà không có tiền trả, người bán phải lấy xe lại. Tôi buồn và tủi thân, nhưng rồi cũng lại đi bộ, lại qua bến đò, lại đến trường nhờ xe của các bạn.
Mẹ không có vật chất cho chúng tôi, nhưng mẹ có cả một tình yêu thương bao la vô bờ bến. Sau một ngày lao động mệt mỏi, đêm về chúng tôi lại quây quầy bên bếp lửa nghe mẹ ngân nga và dạy chúng tôi hát những bài như: “Trồng Cây nhớ Bác”, “Còn Non còn Nước còn Người”, “Bài ca bên Cánh Võng”, “Cô gái mở đường”… Những câu hát ấy ngân vang theo tôi suốt tuổi thơ, như một phần của ngôi nhà nghèo nhưng đầy ắp kỷ niệm.
Tôi đã lớn lên như thế. Có cái nghèo, có những ngày đi mót khoai, nhặt rau, kiếm củi; có những buổi sáng thức dậy từ ba, bốn giờ phụ mẹ rồi đến trường; có những trận lũ làm nhà sập, có lần chính mình bị nước cuốn trôi và được anh Lài cứu giúp; có những cuốn sách cũ được các chị cho để học; có những người hàng xóm chẳng ngại khó khăn, chung tay đan tranh, chẻ lạt, đầm đất, dựng cột để giúp gia đình tôi dựng lại mái nhà.
Và rồi tôi đã đi tiếp. Tôi học hết phổ thông, bước vào giảng đường đại học, rồi có một công việc ổn định trong cơ quan nhà nước. Nhìn lại chặng đường ấy, tôi hiểu rằng mình không chỉ trưởng thành từ sự hy sinh của cha mẹ. Tôi còn trưởng thành từ những bàn tay đã nâng đỡ mình, từ những lời động viên của người thân, thầy cô và từ tình làng nghĩa xóm của Lệ Sơn.
Hơn hai mươi năm xa quê, nhiều thứ đã đổi thay. Tôi hôm nay đã có gia đình, là mẹ của hai đứa trẻ. Nhưng mỗi lần nhớ Lệ Sơn, tôi vẫn nhớ những điều rất nhỏ: tiếng chim cu gáy ở Hung Tắt, dòng sông, bãi cát vàng, lũy tre, bến đò, cây đa, nhà ga, phiên chợ; nhớ dáng mẹ tất tả sớm hôm; nhớ ánh mắt hiền của cha; nhớ tiếng cười của ba chị em; nhớ anh Lài trong trận lũ năm nào; nhớ những củ khoai bà con cho thêm; nhớ những cuốn sách cũ được trao lại và những con người đã cùng gia đình tôi dựng lại căn nhà sau lũ.
Tôi càng đi xa càng hiểu rằng quê hương không chỉ là một địa danh trên bản đồ.
Quê hương là nơi có những người từng thương mình khi mình còn nghèo khó. Là một củ khoai được cho thêm, một cuốn sách cũ được trao lại, một bàn tay kéo mình khỏi dòng nước, một mái nhà được dựng lại sau lũ. Những điều ấy tưởng nhỏ bé, nhưng lại đủ sức theo tôi suốt cả cuộc đời.
Nếu hôm nay có ai hỏi tôi Lệ Sơn trong ký ức là gì, tôi sẽ không kể những điều quá lớn lao. Tôi chỉ muốn kể về ngày ấy – những ngày tôi đã lớn lên trong nghèo khó nhưng chưa bao giờ thấy mình đơn độc; những ngày mà mỗi bước chân đến trường đều có bóng dáng của mẹ, lời dặn của cha, lời động viên của chú Danh và tình thương của bà con, làng xóm.
Để hôm nay, khi đã đi xa, tôi càng biết ơn nơi mình đã sinh ra. Biết ơn cha mẹ. Biết ơn tấm lòng của bà con đã từng đưa tay giúp đỡ gia đình tôi lúc hoạn nạn. Và biết ơn Lệ Sơn – quê hương đã cho tôi một tuổi thơ nhiều gian khó nhưng cũng đầy ắp tình người. Đó là Lệ Sơn của tôi. Một Lệ Sơn của ngày ấy.
Và dù mai này tôi có đi đến đâu, có bao nhiêu năm tháng trôi qua, trong trái tim tôi vẫn luôn có một Lệ Sơn để nhớ, để thương và để quay về.